Monday, March 3, 2014

Linh Đạo Giáo dân-Phần 2a

Linh Đạo Phong trào 
Giáo dân Việt Nam Hải ngoại


PTGDVNHN có mục đích giúp Giáo dân: 

1) Sống Đạo giữa đời 

2) Đem Đạo vào đời 

3) Hướng về Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam

Bằng cách

− nâng đỡ nhau trong tình anh chị em như trong một gia đình, 

− giúp nhau sống đích thực tinh thần Kitô giáo
ngay trong môi trường gia đình và xã hội mình đang sống.


II.
Linh Đạo Giáo dân

A. Thiên Chúa mời gọi mọi người nên thánh
Là người Kitô hữu đồng thời cũng là con cái Thiên Chúa (1*), chúng ta được Ngài tạo dựng theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài (2*). Vì thế, chúng ta được Thiên Chúa mời gọi nên thánh, sống thánh thiện xứng đáng với phẩm giá và chức vị làm con cái Ngài (3*), xứng đáng với sự sống và bản tính thần linh mà Ba Ngôi Thiên Chúa đã thông ban cho ta (4*) khi ta lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy.
(1*)     «Còn những ai đón nhận Ngài, tức là tin vào danh Ngài, thì Ngài cho họ quyền trở nên con cái Thiên Chúa» (Ga 1,12; x. Ep 1,5).
          «Chúa Cha yêu chúng ta dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, mà thật sự chúng ta là con Thiên Chúa» (1 Ga 3,1.2);
          «Nhờ đức tin tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa trong Ðức Giêsu Kitô. Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Ðức Kitô, đều mặc lấy Ðức Kitô» (Gl 3,26-27).
          «Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa… Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên: “Ápba! Cha ơi!” Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Ðức Kitô» (Rm 8,14.15b-17).
(2*)     «Ta hãy tạo dựng con người theo hình ảnh Ta, giống như Ta» (St 1,26; x. St 1,27; 5,1.3; 9,6). Chính vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, giống Thiên Chúa, chúng ta mới có khả năng «nên hoàn hảo như Cha Trên Trời là Đấng Hoàn Hảo» (Mt 5,48). Nếu không như thế, thì việc nên hoàn hảo như Ngài là hoàn toàn không thể, tương tự như loài thú không thể nên hoàn hảo như con người được.
(3*)     Nếu ta là con của một vị vua, một vị tổng thống, ta sẽ hành xử thế nào? Ta có thể hành xử (ăn mặc, nói năng, cư xử...) như một người thầm thường được không? Ta có giữ tư cách xứng đáng với địa vị là con vua, con tổng thống không? – Khi ý thức mình là con cái Thiên Chúa, ta có sống xứng đáng hay giữ tư cách phù hợp với địa vị đó không?
(4*)     «Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta điều hết sức quí báu và trọng đại mà Ngài đã hứa, đó là cho anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa» (2Pr 1,4).
          Có được Thiên Chúa thông ban bản tính thần linh của Ngài qua đức tin và phép Rửa, nghĩa là được Thiên Chúa nâng cấp bản tính của chúng ta lên mức độ thần linh, chúng ta mới có thể «nên hoàn thiện như Cha trên trời» (Mt 5,48) đúng như Đức Giêsu đã truyền dạy chúng ta.
          Đức Giêsu bảo họ: «Trong Lề Luật các ông, đã chẳng có chép lời này sao: “Ta đã phán: các người là những bậc thần thánh”? Lề Luật gọi những kẻ được Thiên Chúa ngỏ lời là những bậc thần thánh, mà lời Kinh Thánh thì không thể bị hủy bỏ» (Ga 10,34-15)
1) Sống thánh thiện hay nên thánh là gì?
– Là sống tốt lành, trọn hảo như lời Ngài truyền dạy: «Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48) (5*)._

(5*)     Giavê nói với Môsê: «Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Các ngươi phải là thánh, vì Ta, Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Ðấng Thánh» (Lv 19,2); «Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi; các ngươi phải nên thánh và phải thánh thiện, vì Ta là Ðấng Thánh… Ta là Thiên Chúa của các ngươi; vậy các ngươi phải nên thánh vì Ta là Ðấng Thánh» (Lv 11,44ª.45b); «Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống như Ðấng Thánh, vì có lời chép: Hãy nên thánh, vì Ta là Thánh» (1Pr 1,15).
– Là sống theo mẫu gương trọn hảo của Chúa Kitô: «Anh em... hãy học với tôi, vì tôi hiền hậu và khiêm nhường từ trong lòng» (Mt 11,29). Nghĩa là bắt chước Chúa Kitô từ trong quan niệm, tâm tình, tư tưởng, đến lời nói, hành động bên ngoài (6*).
______________________________
(6*)     Muốn thế, chúng ta phải thường xuyên đọc và suy gẫm Lời Ngài trong Thánh Kinh để biết lòng của Ngài, tâm thức của Ngài, quan niệm và cách suy nghĩ của Ngài qua từng lời nói và hành động của Ngài hầu noi gương bắt chước, áp dụng thật sự trong đời sống thực tế. Công Đồng Vatican II  chủ trương: «Phải mở rộng lối vào Kinh Thánh cho các Kitô hữu» (Vatican II, Mặc Khải §22).
          Đọc và suy gẫm Thánh Kinh hay Lời Chúa để có «tâm» như «tâm» của Ngài, có «lòng» giống như «lòng» của Ngài, và quan niệm giống như Ngài quan niệm, là điều quan trọng và nền tảng hơn việc bắt chước cách hành xử của Ngài. Khi có «tâm», «lòng» và quan niệm như Ngài, thì tự nhiên cách hành xử hay hành động của ta cũng sẽ giống Ngài. «Tu tâm», tức sửa đổi cái tâm, cái lòng bên trong cho giống tâm lòng của Thiên Chúa quan trọng hơn rất nhiều việc sửa đổi những thứ thấy được bên ngoài.
          Điều quan trọng là chúng ta phải thật sự áp dụng hay đem ra thực hành trong đời sống:
          – «Ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá» (Mt 7,24);
          – «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (22) Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” (23) Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: “Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!”» (Mt 7, 21-23)
– Là theo Chúa Kitô, trở nên môn đệ của Chúa Kitô: «Các anh hãy theo tôi» (Mt 4,19). Người có lý tưởng nên thánh luôn luôn quyết tâm theo Chúa Kitô, luôn luôn ý thức mình là «môn đệ Chúa Kitô», là «con cái Thiên Chúa» chứ không phải là một «phàm nhân» và không chấp nhận cho mình chỉ hành xử như một «phàm nhân» (7*).
______________________________
(7*)     «Nếu sự công chính của các con không cao hơn những người Pharisiêu, các con không được vào Nước Trời» (Mt 5, 20).
2) Tầm quan trọng của việc nên thánh trong đời sống Kitô hữu
Người thật sự theo Chúa coi việc nên thánh là việc quan trọng nhất trong cuộc đời, và dành ưu tiên cho việc này hơn tất cả mọi việc khác tại trần gian như danh, lợi, thú, tình, tiền, quyền bính, sự nghiệp… Chúng ta cần phải làm mới lại ý thức và quyết tâm về điều này hằng ngày hằng giờ (8*).
______________________________
(8*)     Mỗi lần chúng ta ý thức lại và quyết tâm nên thánh, đồng thời coi việc nên thánh là việc quan trọng nhất trong cuộc đời, thì sẽ làm cả thiên đàng vui mừng tương tự như khi có người tội lỗi ăn năn trở lại: «Tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn» (Lc 15,7, x. Mt 18,13).
Người coi việc nên thánh là ưu tiên số một trong cuộc đời thì là người của Thiên Chúa, sẽ được Thiên Chúa chúc phúc và quan phòng lo lắng cho người ấy tất cả những việc còn lại (9*).
______________________________

(9*)     «Anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ khác, Người sẽ lo liệu cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo» (Mt 6,33-34; x. Lc 12,29-31).
Ích lợi của việc theo Chúa hay nên thánh đáng cho ta từ bỏ tất cả mọi vinh hoa, lợi lộc phù phiếm của trần gian, vì Thiên Chúa sẽ bù lại cho ta gấp trăm bằng những lợi ích đích thực [theo cách nhìn khôn ngoan của Ngài] (10*), thậm chí ngay ở đời này (11*).
______________________________

(10*)   Tin Mừng viết: «Ông Phêrô lên tiếng thưa Người: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” Ðức Giêsu đáp: “Thầy bảo thật anh em: anh em là những người đã theo Thầy, thì…  sẽ được gấp bội và còn được sự sống đời đời làm gia nghiệp» (Mt 19,27-29).
(11*)   «Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà bây giờ, ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống đời đời ở đời sau» (Lc 10,29-30).
Vả lại, cuộc sống trần thế này là giả tạm, chóng qua; cuộc sống vĩnh cửu mai hậu mới là cuộc sống thực. Những gì thu thập được trong cuộc sống giả tạm này khi chết sẽ để lại tất cả, chẳng đem sang cuộc sống mới được gì. Chỉ có bản chất hay giá trị đích thực (12*) của ta –tức tình trạng thánh thiện hay tội lỗi– là theo ta sang bên kia thế giới. Bản chất đó sẽ quyết định hạnh phúc hay đau khổ cho ta trong cuộc sống mới vĩnh cửu.
______________________________

(12*)   Cần phân biệt giữa “cái ta có” và “cái ta là”:
          “Cái ta có” (nhà cửa, của cải, tiền bạc, quyền bính, danh vọng, cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè, v.v...) thì ở bên ngoài ta, có thể mất đi cách dễ dàng, và không thể đem qua cuộc sống vĩnh cửu mai hậu được.
          Còn «cái ta là», tức bản chất xấu tốt của ta (vị tha hay ích kỷ, khiêm nhường hay kiêu ngạo, rộng rãi hay keo bẩn,  v.v...) thì luôn luôn gắn liền với con người của ta, và theo ta mãi sang bên kia thế giới
          Nếu cuộc sống trần thế này tội lỗi, thất đức, dù có đạt được vinh hoa, phú quý đến đâu cũng chẳng lợi ích gì: «Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?» (Mt 16,26; x. Mc 8,36; Lc 9,25).
          Bước vào đời sống vĩnh cửu, thử hỏi ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với những người còn ích kỷ, tham lam, còn ác ý, còn lãnh đạm, hẹp hòi, còn hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu không? Chính họ có thể hoàn toàn hạnh phúc và làm cho những người chung quanh họ cũng hoàn toàn hạnh phúc cho đến đời đời, mà không hề gây ra một chút đau khổ nào không? Bản chất chưa hoàn hảo mà đã được sống ở Thiên Đàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền - không vương chút đau khổ - của Thiên Đàng rồi, và biến Thiên Đàng trở thành một cái gì không còn là Thiên Đàng nữa. Do đó, Thiên Đàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn trong sạch, tốt lành từ bản chất.
3) Cốt yếu của sự thánh thiện hay nên thánh là gì?
Chúa Giêsu định nghĩa sự thánh thiện và cho biết hai điều cốt yếu nhất của những người theo Chúa là: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24); «Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy» (Mt 10,38); và dấu chỉ tất yếu của người theo Chúa là: «Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy là anh em yêu thương nhau» (Ga 13,35).
Như vậy, cốt yếu của sự thánh thiện nằm ở ba điều: tinh thần từ bỏ chính mình, sẵn sàng vác thập  giá, và thể hiện lòng yêu thương đối với mọi người (không trừ ai) (13*).
______________________________

(13*)   Lòng yêu thương hay Đức Ái Kitô giáo luôn luôn bao hàm sự công bằng. Công bằng chính là nền tảng của Đức Ái. Không thể nói mình yêu thương người khác khi mình đối xử bất công với họ. Công Bằng và Bác Ái là hai đức tính nền tảng của đạo đức Kitô giáo.
a– Từ bỏ chính mình: là quên mình, coi nhẹ bản thân mình, đồng thời đặt lợi ích, ý kiến, ý muốn, danh dự… của Thiên Chúa và tha nhân lên trên lợi ích… của mình (14*). Có coi nhẹ “cái tôi” của mình, chúng ta mới có thể yêu thương tha nhân như Chúa Giêsu truyền  dạy (15*). “Cái chất tôi” của mình càng nhỏ đi thì “cái chất thần linh” của mình càng lớn lên (16*); ngược lại, “cái tôi” của mình càng lớn, thì sự hiện diện hoạt động của Chúa ở trong ta càng nhỏ. Chỉ khi nào ta coi “cái tôi” của ta không là gì cả, thì ta mới có thể nói được như thánh Phaolô: «Tôi sống, nhưng phải là tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20)(17*).
______________________________

(14*)   «Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước» (Đường Hy Vọng, Ch.1, §3); «Hãy bỏ mình, vác thánh giá mỗi ngày và đóng đinh mình trên thánh giá ấy» (Ch. 4, §73); «Ai chưa “bỏ mình vác thánh giá” thì chưa “theo Thày” được. Điều kiện tiên quyết» (Ch. 8, §157);
(15*)   «Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Mt 22,39; x. Mc12,31; Lc 10,27); «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 13,34-35; x. 15,12; 1Ga 3,11; 3,23).
(16*)   Gioan Tẩy giả nói về Chúa Giêsu: “Tôi phải nhỏ đi, còn Người phải lớn lên” (Ga 3,30); «Ai tự hạ mình, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời» (Mt 18,3)
(17*)   Hoặc có thể nói tương tự: «Tôi làm nhưng không phải tôi làm, mà là Chúa Kitô làm trong tôi», chỉ trong tình trạng tâm linh này thì những việc làm ấy mới có hiệu quả tâm linh đích thực.
Tinh thần từ bỏ chính mình được thực hiện trong tâm thức coi nhẹ “cái tôi” của mình. Nó cũng cần được thể hiện cụ thể thành việc làm hay cuộc sống qua việc sẵn sàng “vác thập giá mình” theo gương Chúa Kitô (18*).
______________________________

(18*)   «Ðức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự» (Pl 2,6-8).
          «Hạt lúa được gieo vào lòng đất nếu không chết đi, nó vẫn chỉ là hạt lúa, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác» (Ga 12, 24).
b– Vác thập giá mình: là sẵn sàng chấp nhận những điều trái ý như đau khổ, thiệt thòi, mất mát, bệnh tật, đau đớn, bị xúc phạm… xảy đến trong cuộc đời mình, nhất là khi tình yêu tha nhân đòi hỏi. Có sẵn sàng chấp nhận những đau khổ, thiệt thòi ta mới dễ dàng hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân để thể hiện tình yêu của mình (19*).
______________________________

(19*)   «Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được» (Mt 14,27);
          «Có người không vác thánh giá của mình hay của người khác mà tưởng tượng thánh giá mình quá nặng. Có người vác thánh giá cả làng mà không vác thánh giá của mình. Có người vác thánh giá cả làng và gán thánh giá của mình bắt kẻ khác vác» (ĐHV §18).
          «Thử thách gian khổ là "giấy phép theo Chúa" để hưởng hạnh phúc hân hoan với Chúa: "Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thánh giá..."» (ĐHV §714).
Người sẵn sàng «từ bỏ chính mình, vác thập giá mình» để theo Chúa sẽ không tự kiêu, tự mãn, không khoe khoang (show up), không phản ứng bất lợi đối với những kẻ xúc phạm, nói xấu, vu khống ta, trái lại sẵn sàng tha thứ (20*) và cầu mong điều tốt lành cho họ (21*). Chính Chúa Giêsu đã làm gương cho ta về hai đức tính này (22*) và dạy ta thực hành (23).
______________________________

(20*)   «Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em» (Mt 6,14-15; x. Mt 18,35; Mc 11,25-26; Lc 6,37b); «“Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?”... “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”» (Mt 18,21-22); «Bấy giờ Ðức Giêsu cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”» (Lc 23,34).
(21*)   «Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Ðấng ngự trên trời» (Mt 5,44-45a).
(22*)   «Ðức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự» (Pl 2,6-8)
(23*)   «Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, thì anh hãy cho; ai muốn vay mượn, thì anh đừng ngoảnh mặt đi» (Mt 5,39-42).
c– Yêu thương nhau: Đây là luật tối thượng của luân lý Kitô giáo (24*): Không chỉ yêu thương những người thân của mình, mà phải yêu thương cả những người xa lạ (25*), thậm chí cả kẻ thù mình (26*).
______________________________

(24*)   «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,34); «Ðây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 15,12 x.17).
          Đức ái chính là hiến pháp, là luật tối thượng bao trùm tất cả mọi khoản luật. Thánh Giacôbê cho đức ái là luật cao nhất của Kinh Thánh: «Luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu là Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Gc 2,8). Thánh Phaolô nói «Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật» (Rm 13,8; x. 18,10). Thánh Âu Tinh cũng nói: «Cứ yêu đi, rồi muốn làm gì thì làm» (Ama et fac quod vis).
          «Hãy yêu thương nhau không bằng lời nói mà bằng việc làm. Hãy yêu thương nhau bằng tay mặt mà tay trái không biết» (ĐHV §755)
(25*)   «Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?» (Mt 5,46-47).
(26*)   «Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em» (Mt 5,44); «Anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả» (Mt 6,35);
d- Sống công bằng: Nền tảng của yêu thương là tinh thần tôn trọng công bằng. Công bằng là tôn trọng quyền và lợi của tha nhân đúng như luật Thiên Chúa và luật con người đòi hỏi. Ta không thể yêu thương ai đúng nghĩa khi ta đối xử không công bằng với người ấy (27*)
______________________________

(27*)   Người giáo dân muốn «sống đạo giữa đời» và muốn «đem đạo vào đời» phải thật sự quan tâm đến việc sống công bằng đối với mọi người, và phải nỗ lực tạo «công bằng xã hội» đồng thời chống lại những bất công và những cơ chế gây bất công trong xã hội mình đang sống.
4) Tiêu chuẩn thẩm định sự thánh thiện hay giá trị tâm linh của con người
«Từ bỏ mình» và «vác thập giá mình» là hai tiêu chuẩn nền tảng và là thước đo chắc chắn nhất để xác định mức độ thánh thiện hay sự tiến triển tâm linh của một con người.
«Từ bỏ mình» và sẵn sàng «vác thập giá mình» là nền tảng và là điều kiện cần thiết không thể thiếu để có thể thực hiện hai điều cốt yếu của việc nên thánh là yêu thương mọi người và  sống công bằng với mọi người. Không từ bỏ mình và không chấp nhận vác thập giá mình thì không thể tôn trọng sự công bằng và yêu thương đích thực được. Yêu thương mà thiếu hai điều kiện ấy thì chỉ là thứ yêu thương giả dối, yêu thương bằng môi miệng.
Tự hào mình là người theo Chúa và coi việc nên thánh là ưu tiên số một của cuộc đời mình mà không chịu «từ bỏ mình» và sẵn sàng «vác thập giá mình» để có thể thật sự sống công bằng và yêu thương mọi người thì sự tự hào đó chỉ là một ảo tưởng và là hành vi tự dối mình (28*).
______________________________

(28*)   Chính Chúa Giêsu định nghĩa “người theo Ngài” hay “môn đệ của Ngài” như sau: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24); «Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy» (Mt 10,38).

Linh Đạo Giáo dân-Phần 2b

Linh Đạo Phong trào
Giáo dân Việt Nam Hải ngoại
(tiếp theo)

PTGDVNHN có mục đích giúp Giáo dân: 
1) Sống Đạo giữa đời 
2) Đem Đạo vào đời 
3) Hướng về Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam
Bằng cách:
− nâng đỡ nhau trong tình anh chị em như trong một gia đình, 
− giúp nhau sống đích thực tinh thần Kitô giáo
ngay trong môi trường gia đình và xã hội mình đang sống.


II.
Linh Đạo Giáo dân (tiếp theo)

B. Ba thiên chức của người Kitô hữu
Để sống đức tin giữa lòng trần thế, sống đạo giữa đời và thánh hóa thế gian, người  Kitô hữu cần ý thức ba thiên chức quan trọng của Chúa Kitô mà họ đã lãnh nhận từ Ngài khi chịu phép rửa tội, đồng thời thi hành ba thiên chức ấy trong mọi phương diện của trần thế.
Ba thiên chức ấy là: Vương Giả, Tư Tế Ngôn Sứ mà chúng ta có thể diễn tả thành ba chức năng: Làm Chủ, Làm Lễ Làm Chứng (1*).
Ba thiên chức này phản ảnh 3 công việc của Ba Ngôi Thiên Chúa:
Làm Chủ: là công việc của Chúa Cha, Đấng tạo dựng, điều hành và là chủ tể của vũ trụ vạn vật.
Làm Lễ: là công việc của Chúa Con, Đấng hạ mình nhập thể làm người, đã dùng chính đời sống, sự đau khổ và cả sự chết của mình để thờ phượng Thiên Chúa Cha và để chứng tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa và con người.
Làm Chứng: là công việc của Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động trong Giáo Hội để thánh hóa con người, và để làm chứng cho Thiên Chúa và Chúa Giêsu qua lời nói và việc làm của các ngôn sứ mọi thời đại.
Đây cũng là ba chức năng quan trọng mà Chúa Giêsu đã thực hiện suốt cả cuộc đời mình một cách gương mẫu, và cũng là ba chức năng mà những ai muốn làm môn đệ của Ngài cần phải thực hiện trong chính cuộc sống của mình.
__________________________
(1*)     «Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế, vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người [=ngôn sứ], Ðấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền» (1Pr 2,9).
1) Làm chủ:
Chức năng Làm Chủ –phát sinh từ thiên chức Vương Giả– là làm chủ bản thân, làm chủ tập thể (gia đình, xã hội, Giáo Hội), làm chủ ngoại cảnh (thiên nhiên, môi trường, hoàn cảnh, những chuyện xảy đến…) (2*).
_________________________
(2*)     Tinh thần người làm chủ một công việc hay một tài sản khác với tinh thần của một người khách hay người làm công.
             Người khách đến thăm không có trách nhiệm gì trong căn nhà hay tài sản của người chủ căn nhà hay tài sản ấy, vì căn nhà hay tài sản ấy không phải là của người khách. Việc giữ gìn hay dọn dẹp nhà cửa cho sạch sẽ ngăn nắp là trách nhiệm của người chủ.
             Người làm công chỉ làm và chỉ có trách nhiệm trên những việc mà người chủ giao làm. Hết việc hay hết giờ làm là hết trách nhiệm. Còn người làm chủ thì có trách nhiệm trên toàn thể công việc hay hãng xưởng mà mình làm chủ. Thành công thì mình hưởng, còn thất bại thì mình chịu.
             Tóm lại, người làm chủ cảm thấy có trách nhiệm trên toàn thể tài sản hay công việc mà mình làm chủ. Thái độ của người làm chủ rất khác với thái độ của người khách hay người làm công.
             Với chức năng và tinh thần «làm chủ» này, người giáo dân Kitô hữu cũng được Thiên Chúa mời gọi làm chủ gia đình mình, xứ đạo mình, làm chủ xã hội, làm chủ đất nước, làm chủ Giáo Hội, làm chủ lịch sử, và làm chủ thế giới. Sống tinh thần «làm chủ», người Kitô hữu luôn luôn cảm thấy mình gắn bó và có trách nhiệm đối với tình trạng tốt xấu, tiến bộ hay tụt hậu, v.v... của tất cả những thực thể hay tập thể đó.
Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã tạo dựng họ theo hình ảnh của Ngài và giống như Ngài. (x. St 1,26; x. St 1,27; 5,1.3; 9,6). Mà Ngài là chủ tể thống trị vũ trụ vạn vật, Ngài cũng muốn con người làm chủ như thế. Vì thế, khi vừa tạo dựng con người, Ngài đã mời gọi con người làm chủ: «Hãy thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất» (St 1,28).
Khi mời gọi con người như thế, đương nhiên Ngài muốn chúng ta là những ông/bà chủ nhỏ, làm chủ mọi sự theo cung cách và đường lối của Ngài. Vì thế, chúng ta phải học làm chủ theo cung cách và đường lối của Ngài, chứ không phải theo cung cách và đường lối của chúng ta. Nói khác đi, chúng ta là những «người chủ nhỏ» cùng cộng tác với Ngài trong việc điều hành mọi sự theo ý Ngài.
Chức năng này liên quan đến quan hệ giữa mình với chính mình, và giữa mình với những gì không phải là mình. Trong những quan hệ này thì mình luôn luôn nắm vai trò chủ động: chủ động trong việc biến đổi mình và biến đổi mọi sự nên tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, chủ động biến đổi mọi sự nên tốt đẹp ở đây không có nghĩa là mình ép buộc mọi người, mọi sự nên tốt theo ý mình, mà mình phải tự biến đổi mình trước tiên. Khi mình biến đổi thì mình sẽ làm cho mọi người mọi vật chung quanh mình cũng biến đổi theo.
Như vậy, điều quan trọng nhất trong chức năng này là làm chủ bản thân, nghĩa là tự chủ, là tự thắng mình, chế ngự bản thân, không để tình cảm, xúc động, dục vọng, bản năng, sở thích, ngoại cảnh điều khiển mình (3*). Có làm chủ được bản thân mới có thể làm chủ được tập thể và ngoại cảnh, làm cho mọi sự nên tốt đẹp đúng như ý muốn hay chương trình của Thiên Chúa (4*).
_________________________
(3*)     «Những việc nhỏ đều quan hệ, con đừng khinh thường. Thắng mình liên lỉ trong các việc nhỏ, con luyện ý chí thành sắt đá và làm chủ bản thân con» (ĐHV § 215)
(4*)     Lão Tử viết: «Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường» (Thắng người là kẻ có sức, nhưng thắng mình mới là người mạnh) (Đạo Đức Kinh, chương 33).
Nói chung, làm chủ bản thân, làm chủ tập thể (gia đình, xã hội, Giáo Hội), làm chủ ngoại cảnh (thiên nhiên, môi trường) đòi hỏi chúng ta ý thức trách nhiệm đối với những thực thể ấy. Khi có chuyện gì xảy ra tốt hay xấu đối với những thực thể ấy, người có tinh thần làm chủ lập tức cảm thấy mình có trách nhiệm chính trong đó, chứ không quy trách nhiệm hay đổ lỗi cho người khác (5*). Từ đó phát sinh ý thức chính mình có trách nhiệm sửa sai, hoàn chỉnh mọi chuyện sao cho tốt đẹp.
_________________________
 (5*)    Người có tinh thần làm chủ, khi đứng trước những khiếm khuyết, những điều không ứng ý trong gia đình, xã hội, Giáo Hội, hay những tập thể mà mình làm một thành viên, v.v... thì có tâm tình nhận lỗi như trong “Kinh Cáo Mình”: “… lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng” (mea culpa, mea culpa, mea maxima culpa). Từ đó, người ấy tự xét lại bản thân xem phần lỗi của mình như thế nào trong tình trạng khiếm khuyết đó, đồng thời sẵn sàng nhận trách nhiệm sửa sai hay hoàn thiện công việc hay tập thể của mình. Tuyệt đối không đổ lỗi cho người khác!
             Người có tinh thần làm chủ, khi gặp những chuyện đáng tiếc thì luôn luôn “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Chính khi mình cảm thấy có trách nhiệm trong chuyện đáng tiếc ấy và xét xem mình có lỗi gì trong đó, thì mình mới chịu sửa sai và nên hoàn thiện được. Và đó chính là thái độ của người làm chủ. Người có tinh thần “làm khách” hay “làm công” thì không bao giờ thấy mình có trách nhiệm trong đó.
2) Làm lễ
Chức năng Làm Lễ –phát sinh từ thiên chức Tư Tế là thể hiện tương quan giữa mình với Thiên Chúa, vừa là chủ tể của mình và vạn vật, cũng là người Cha luôn luôn yêu thương chăm sóc mình và vạn vật. Do đó, chức năng làm lễ được thể hiện qua việc thờ phượng, yêu mến, kính phục, quyết tâm sống thực hiện Thánh Ý Ngài, làm theo những lời Ngài dạy (6*), và phó thác cuộc sống của mình cho Ngài (7*). Nói chung, những việc làm hay tâm tình ấy được gọi là cầu nguyện (8*). Cầu nguyện rất cần thiết trong đời sống Kitô hữu, nhất là trong việc tông đồ (9*).
_________________________
(6*)     «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : "Lạy Chúa ! lạy Chúa !" là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng : "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao ?" Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ : Ta không hề biết các ngươi ; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác !» (Mt 7,21-23)
(7*)     Việc ca tụng, ngợi khen Thiên Chúa là điều tốt, nên làm. Nhưng đối với Thiên Chúa, nó không giá trị bằng việc thực hiện những lời Ngài dạy, những tâm tình hay hành vi yêu thương đối với đồng loại. Thật vậy, Thiên Chúa nói qua lời ngôn sứ Isaia: «Ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với Ta, nào nghĩa lý gì ? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm ! Khi các ngươi đến trình diện Ta, ai khiến các ngươi phải giẫm lên khuôn viên của Ta ? Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương ; Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sa-bát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạt linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn ; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu. Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta. Đừng làm điều ác nữa. Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ» (Is 1,11-17).
(8*)     Cầu nguyện không chỉ là đọc kinh, ca tụng Thiên Chúa, xin Ngài ơn nọ ơn kia. Cốt yếu của cầu nguyện không nằm ở những việc đó, mà ở chỗ nâng tâm hồn lên hướng về Thiên Chúa, kết hiệp với Thiên Chúa qua quan niệm, tư tưởng, lời nói, việc làm, quyết tâm trở nên hoàn hảo giống Thiên Chúa...
             Chắc chắn Thiên Chúa không thích những lời nguyện không phù hợp với tâm tình đích thực bên trong, không xuất phát từ đáy lòng, hay những lời cầu xin phản ánh tính ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình: «Giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4,23-24);
             Khi cầu nguyện, không cần phải nói nhiều về những nhu cầu của mình, như thể Thiên Chúa không biết gì về những nhu cầu ấy: «Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin» (Mt 6,7-8); «Dầu miệng con không nói ra, Chúa đã hiểu thấu lòng con. Con hãy xem gương người đàn bà băng huyết: động đến gấu áo Chúa, được nhận lời ngay» (ĐHV §139).
(9*)     «Muốn đánh giá công việc tông đồ của ai, con hãy xem người ấy cầu nguyện thế nào? Nếu con không cầu nguyện, chẳng ai tin con làm việc vì Chúa đâu! Tại sao có khủng hoảng trong Hội Thánh? Vì hạ giá việc cầu nguyện» (ĐHV §§132,133,134); « Kết qủa phong phú của việc tông đồ giáo dân tuỳ thuộc ở sự kết hiệp sống động của chính họ với Chúa Kitô, Đấng phán rằng: “Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong kẻ ấy, như vậy mới sinh được nhiều hoa trái vì ngoài Thầy ra chúng con chẳng làm gì được” (Ga 15,5)» (Vatican II, Tông đồ Giáo dân §4a).
Chức năng Làm Lễ đã được Chúa Giêsu thực hiện một cách hoàn hảo nhất mà chúng ta có thể mô phỏng hay bắt chước Ngài. Sự thờ phượng của Chúa Giêsu được thực hiện qua một quá trình, bắt đầu từ việc hạ mình xuống thế sống thân phận con người, nhất là đã tự hủy mình hay tự sát tế mình qua cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá (10*). Nơi Chúa Giêsu, việc sát tế hay thờ phượng ấy vừa là thể hiện tình yêu đối với Thiên Chúa, vừa là thể hiện tình yêu đối với con người. Có thể nói Ngài đã thờ phượng Thiên Chúa bằng cách yêu thương và hy sinh đến tận cùng cho con người. Đó cũng là cách thờ phượng mà chúng ta, những môn đệ của Ngài cần noi theo. Nơi Chúa Giêsu, việc thờ phượng Thiên Chúa và việc yêu thương con người chỉ là một thực thể duy nhất, gắn liền với nhau không thể tách biệt như hai mặt của cùng một tờ giấy.
_________________________
(10*)   Thánh Phaolô đã mô tả quá trình ấy như sau: «Ðức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự» (Pl 2,6-8).
Trong Cựu Ước, việc thờ phượng Thiên Chúa được thực hiện bằng việc sát tế một con vật thay vì sát tế chính bản thân mình để nói lên quyền chủ tể của Thiên Chúa trên mạng sống mình. Con vật bị sát tế gọi là “lễ vật hy sinh”, như thế cốt yếu của việc thờ phượng là sự hy sinh, là hành vi sát tế. Nhưng con vật là cái gì ngoài mình, không phải là mình hay cái thân thiết nhất của mình. Việc thờ phượng Thiên Chúa không gì bằng sự sát tế chính “cái tôi” của mình, cùng với những ý riêng, ý kiến, tham vọng… của mình để cuối cùng là «Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, mà là Thiên Chúa sống trong tôi» (Gl 2, 20) (11*).
_________________________
(11*)   Cũng vậy trong những lãnh vực khác của cuộc sống: «Tôi làm, nhưng không phải tôi làm, mà là Thiên Chúa làm trong tôi», «Tôi muốn, nhưng… mà là Thiên Chúa muốn...»
Chức năng Làm Lễ được thực hiện chủ yếu trong chính cuộc sống đời thường hằng ngày, chứ không phải chỉ thực hiện tại các thánh đường, trong các Thánh Lễ hay trong những giờ cầu nguyện (12*).
_________________________
(12*)   Thánh Lễ, các bí tích, và các giờ cầu nguyện đem lại nhiều ơn thiêng, sức mạnh tâm linh để giúp ta sống thánh thiện, có động lực để «từ bỏ mình» và «vác thập giá theo Chúa» hầu sống yêu thương. Việc sống thánh thiện, sống tinh thần «từ bỏ mình» và «vác thập giá» hầu sống yêu thương mới là mục đích hay hiệu quả của các bí tích hay những giờ cầu nguyện.
             Người Việt thường nói: «Ăn để sống, chứ không phải sống để ăn». Cũng vậy, Thánh Lễ, các bí tích hay việc cầu nguyện là để phục vụ và phát triển đời sống tâm linh, chứ không phải ngược lại. Cần phân biệt rõ ràng cái nào là mục đích và cái nào chỉ là phương tiện.
             Nếu những phương tiện ấy (Thánh Lễ, bí tích…) không làm ta tiến bộ trong đời sống tâm linh, thì ta đã sử dụng những phương tiện ấy không đúng.
Tóm lại, chức năng Làm Lễ được thực hiện bằng việc dâng bản thân, dâng ý riêng, dâng mọi công việc của đời thường lên Thiên Chúa như một lễ vật, cùng với Chúa Giêsu, để thờ phượng Thiên Chúa và để thánh hóa bản thân và mọi công việc của mình (13*).
_________________________
(13*)   «Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người» (Rm 12:1); «Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài» (Dt 10: 6-7).
3) Làm chứng
Chức năng này –phát sinh từ thiên chức Ngôn Sứ là làm  tông đồ hay làm chứng cho Thiên Chúa, cho Chúa Giêsu-Kitô, cho chân lý (luôn luôn thành thật, nói sự thật), cho công lý (sống công bình và đòi hỏi công bình trong xã hội, chống bất công áp bức), giúp mọi người nên tốt lành thánh thiện hơn, để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
a– Làm chứng cho Thiên Chúa: Thiên Chúa ít khi trực tiếp và minh nhiên dạy dỗ chỉ bảo con người, mà thường chỉ gián tiếp dạy dỗ, chỉ bảo họ qua các ngôn sứ của mỗi thời đại. Thời đại nào cũng có những người được kêu gọi làm ngôn sứ, làm tông đồ, hoặc hữu danh hoặc vô danh, để tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu (14*).
_________________________
(14*)   «Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em» (Mt 28,19); «Được ơn làm ngôn sứ, thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin» (Rm 12,6); «Các Kitô hữu phải cố gắng toả ánh sáng sự sống với tất cả lòng tin tưởng vững chắc và lòng can đảm của người tông đồ, cho dù phải đổ máu» (Vatican II, Tuyên ngôn về Tự Do Tôn Giáo §14c); «Phải làm chứng về Chúa Kitô trên khắp mặt đất và trình bày niềm hy vọng về cuộc sống vĩnh cửu mà họ ôm ấp cho những ai đang khao khát (x.1Pr 3,15)» (Vatican II, Hiến chế về Giáo Hội, §10a).
Công Đồng Vatican II xác định bổn phận và quyền làm tông đồ của người giáo dân: «Giáo dân có bổn phận và quyền làm tông đồ do chính việc kết hợp với Chúa Kitô là Đầu. Họ được chính Chúa chỉ định làm việc tông đồ, vì phép Rửa tội sát nhập họ vào Nhiệm Thể Chúa Kitô, phép Thêm sức làm cho họ thêm mạnh mẽ nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Họ được thánh hiến vào chức vụ tư tế vương giả và dân tộc thánh (x. 1Pr 2,2-10), hầu trong mọi việc họ dâng những lễ vật thiêng liêng và làm chứng cho Chúa Kitô ở mọi nơi trên hoàn cầu» (Vatican II, Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo Dân §3a).
Chức năng Làm Chứng không chỉ là làm tông đồ hay làm chứng cho Thiên Chúa, mà còn phải làm chứng cho chân lý, công lý và tình yêu Kitô giáo bằng chính đời sống và việc làm của mình.
b– Làm chứng cho chân lý: Người giáo dân Kitô hữu phải luôn luôn ăn ngay nói thật, không gian dối trong lời nói cũng như trong việc làm (15*). Phải sống làm sao để bất kỳ lời nào ta nói ra phải là những lời tốt đẹp, người khác có thể tin ngay, không phải nghi ngờ điều gì (16*).
_________________________
(15*)   «Có thì nói có, không thì nói không, thêm bớt điều gì là bởi ma quỉ mà ra» (Mt 5,37).
(16*)   «Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe» (Ep 4,29).
c– Làm chứng cho công lý: Sống công bằng và sòng phẳng đối với mọi người, không bất công đối với bất kỳ ai, về mặt tiền bạc cũng như ân nghĩa; đó là công bằng cá nhân mà người giáo dân Kitô hữu phải thực hiện (17*). Ngoài ra, Kitô hữu còn phải chống bất công xã hội đồng thời cổ võ việc thực thi công bằng xã hội trong môi trường mình đang sống (18*). Đây là nền tảng của Đức Ái Kitô giáo. Đức Ái Kitô giáo không thể có được nếu không được xây dựng trên nền tảng công bằng (19*).
_________________________
(17*)   «Lời bất công của người công chính vô cùng ác hại. Đó là thuốc độc do tay bác sĩ trao. Toa thuốc ấy càng truyền ra, càng giết người» (ĐHV §757).
(18*)   «Của cải trần gian là để cho mọi người hưởng dụng. Thiên Chúa đã đặt định trái đất và mọi vật trên trái đất thuộc quyền sử dụng của mọi người và mọi dân tộc. Chính vì thế, của cải được tạo dựng phải được phân phối cho tất cả mọi người một cách hợp lý theo luật công bằng là luật đi liền với bác ái» (Vatican II, Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay §69a).
             «Hoà bình không hẳn là vắng bóng chiến tranh, cũng không chỉ được giản lược vào sự quân bình giữa các lực lượng đối phương, cũng không phát xuất do một nền cai trị độc tài, nhưng theo đúng định nghĩa thì hoà bình là “công trình của công bằng” (Is 32,17)» (nt §78a).
(19*)   «Đức tin phải biểu lộ sự phong phú của mình bằng cách thâm nhập vào toàn thể đời sống của các tín hữu, kể cả đời sống thế tục và thúc đẩy họ sống công bằng, bác ái nhất là đối với người nghèo khổ» (nt §21e).
d– Làm chứng cho tình yêu: Tình yêu đối với nhau và đối với mọi người là dấu chứng của người môn đệ Chúa Giêsu: «Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em yêu thương nhau» (Ga 13,35) (20*).
_________________________
(20*)   «Việc noi theo và làm chứng đức ái cùng sự khiêm hạ của Chúa Kitô cần được các môn đệ thực hiện không ngừng; nên Giáo hội là Mẹ chúng ta vui lòng khi thấy trong lòng mình có nhiều con cái nam nữ muốn theo sát gương Đấng Cứu Thế và tỏ lộ rõ ràng hơn sự tự diệt của Người» (Vat. II, GH §42d).
Người ta chỉ yêu đúng nghĩa hay yêu đích thực khi người ta thực hiện được hai yếu tố: “từ bỏ mình” và “vác thập giá” (21*), là hai điều kiện mà Chúa Giêsu đòi hỏi những người muốn theo Ngài phải có từ trong bản chất của mình (22*). Người theo Chúa phải là chứng nhân sống động của tình yêu đích thực đối với mọi người, không trừ ai, nhưng phải bắt đầu từ những người gần mình nhất: vợ con, cha mẹ, anh em, bạn bè, rồi đến những người xa hơn…
 Người giáo dân nên thánh giữa đời chính là thực hiện 3 chức năng trên của người Kitô hữu trong đời sống thường ngày.
_________________________
(21*)   “Từ bỏ mình” = ra khỏi chính mình, quên mình; “vác thập giá” = chịu thiệt thòi, đau khổ. Yêu ai mà ta không quên mình đi để nghĩ đến hạnh phúc của người đó, và cũng không chấp nhận hy sinh, chịu khổ hay chịu mất mát gì để người đó được hạnh phúc, thì tình yêu đó không phải là tình yêu đích thực. Lúc đó, mình chỉ yêu mình và tìm cách hưởng hạnh phúc bằng tình cảm của người đó dành cho mình, chứ không phải yêu người đó. Nói cách khác, mình yêu mình qua người đó: tình yêu đi đường vòng đến người đó để rồi trở lại chính mình.
(22*)   «Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả» (1Cr 13,4-7).


Saturday, March 1, 2014

Linh Đạo Giáo dân-Phần 1

Linh Đạo Phong trào 
Giáo dân Việt Nam Hải ngoại

PTGDVNHN có mục đích giúp Giáo dân: 
1) Sống Đạo giữa đời 
2) Đem Đạo vào đời 
3) Hướng về Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam
Bằng cách
− nâng đỡ nhau trong tình anh chị em như trong một gia đình, 
− giúp nhau sống đích thực tinh thần Kitô giáo
ngay trong môi trường gia đình và xã hội mình đang sống.
          
I.
Phong trào Giáo Dân Việt Nam 
Hải Ngoại là gì?

A. Phong trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại
1) Định nghĩa:
1) Phong trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại (viết tắt: PTGDVNHN) là phong trào chủ yếu dành cho những Kitô hữu giáo dân đang sống tại hải ngoại, là những người phải sống xa Quê hương, bị  ngăn cách với Giáo Hội Mẹ Việt Nam, nhưng vẫn hướng lòng về Quê hương và Giáo Hội Việt Nam.
Vì thế người Giáo dân Việt Nam Hải ngoại
       vừa “sống Đạo giữa đời” rồi “đem Đạo vào đời” trong môi trường sống mới,
       vừa cố gắng trong khả năng của mình giúp Quê hương và Giáo Hội Việt Nam phát triển tốt đẹp.
Trong ý hướng đó, PTGDVNHN được thành lập ngày 07 tháng 10 năm 1992 tại Roma để giúp các Giáo dân Việt Nam Hải ngoại thực hiện được hai nghĩa vụ trên (1*).
________________________________
(1*)   Văn bản «Công Bố Thành lập Phong trào Giáo dân Việt Nam Hải ngoại» do Đức Ông Philliphê Trần Văn Hoài ký tên, đã xác định mục đích của Phong trào là: «Tạo điều kiện cho Giáo dân Việt Nam Hải ngoại ý thức và thực thi sứ mệnh và vai trò của mình trong Giáo Hội và giữa trần-thế, được minh định trong các Văn Kiện của Tòa Thánh và được cô đọng trong Tông Huấn “Christi Fides Laici” của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II» (Thủ Bản, trang 68).
2) PTGDVNHN là một phong trào giáo dân có những đặc tính căn bản như mọi phong trào giáo dân khác, như giúp giáo dân thánh hóa bản thân, đồng thời cổ võ và tổ chức cho người giáo dân dấn thân làm việc tông đồ, mở mang Nước Chúa trong các môi trường xã hội trần thế.
Tuy nhiên, mỗi phong trào giáo dân đều có những tính cách riêng khác với những phong trào giáo dân khác. PTGDVNHN cũng có những tính cách riêng của nó (2*).
________________________________
 (2*)   Những đặc tính chung và căn bản cần được đặt nặng và quan tâm thực hiện hơn những đặc tính riêng biệt của từng phong trào.


2) Tính cách riêng của PTGDVNHN
PTGDVNHN được xây dựng trên ba nền tảng:
·  Sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô,
·  Công Đồng Vatican II,
Ÿ Đặc biệt Giáo huấn của Giáo Hội về những vấn đề xã hội, hay Học thuyết xã hội của Giáo Hội,
Ÿ Tính cách và hoàn cảnh của các Kitô hữu Người Việt tại hải ngoại.
Do đó,
a- PTGDVNHN tìm cách đáp ứng nhu cầu của Giáo Hội Việt Nam và Dân Tộc Việt Nam trong hoàn cảnh rất đặc biệt của Giáo Hội và Dân Tộc Việt Nam hiện nay, vốn bao gồm cả trong nước lẫn hải ngoại. Những hoạt động của PTGDVNHN yểm trợ việc đòi hỏi tự do tôn giáo của Giáo Hội Việt Nam và cuộc đấu tranh cho dân chủ nhân quyền tại quốc nội xuất phát từ tính cách này.
b- Về phương thức hoạt động tông đồ, PTGDVNHN nhận định theo quan điểm mới của Công Đồng Vatican II: Môi trường xã hội và thế giới hiện nay đã bị đảo lộn rất nhiều trong thế kỷ 20 và 21, con người không muốn chấp nhận các quan niệm cũng như các giá trị luân lý và tôn giáo cổ truyền, mà muốn thay đổi quan niệm và đi tìm những giá trị mới.
Công Đồng Vatican II đã nhận ra rằng phương thức làm tông đồ theo lối cổ truyền không còn hiệu nghiệm nữa. Công Đồng đã đề ra 2 phương thức tông đồ mới là “hội nhập văn hóa” (3*) và “đối thoại tôn giáo” (4*) mà PTGDVNHN làm theo để đem Đạo vào đời trong môi trường xã hội mình đang sống.
________________________________
(3*)   Hội nhập Văn hóa là đem tinh thần Phúc Âm áp dụng một cách thích ứng vào nền văn hóa đặc thù của từng dân tộc, trên tinh thần thừa nhận và tôn trọng giá trị tốt đẹp của các nền văn hóa ấy; chứ không đem thứ «văn hóa công giáo» của những người truyền giáo áp đặt lên các dân tộc, buộc họ phải theo như Giáo Hội đã từng thực hiện trong các thế kỷ trước Công Đồng Vatican II. Truyền giáo theo phương thức cổ truyền này đã bị thất bại nặng nề tại Á Châu, đặc biệt tại Trung Hoa và Việt Nam.
(4*)   Đối thoại tôn giáo tạo cơ hội cho các tôn giáo tìm hiểu nhau, nhận ra những mặt mạnh hay những giá trị ưu việt của nhau trong công cuộc giáo hóa các dân tộc. Nhờ hiểu biết những giá trị của nhau, các tôn giáo sẽ tôn trọng nhau, yêu thương nhau, và sẵn sàng hợp tác với nhau để cùng xây dựng lợi ích chung, cùng nhau giúp các dân tộc phát triển về tâm linh, tinh thần cũng như vật chất. Chính trong tinh thần đối thoại, hợp tác trong thông cảm và yêu thương này mà các dân tộc dễ nhận ra và chấp nhận tinh thần và sứ điệp của Chúa Kitô hơn.
c- Bốn môi trường hoạt động chuyên biệt của PTGDVNHN:
Theo đường hướng mới của Công Đồng Vatican II, PTGDVNHN chủ trương thực hiện việc tông đồ trong bốn môi trường chuyên biệt sau đây:
– Tôn giáo: Sẵn sàng đến với người đồng đạo, cùng là Kitô hữu với mình, để chia sẻ đời sống nội tâm, khuyến khích nhau sống đạo và “đem Đạo vào đời”, tiếp tay với hàng giáo sĩ trong việc mở mang và phát triển Giáo Hội. Ngoài ra, cũng sẵn sàng tiếp xúc với các tín đồ tôn giáo khác để trao đổi kinh nghiệm tâm linh trong tinh thần cởi mở, nhất là làm chứng cho tinh thần Phúc Âm bằng chính cuộc sống xả thân, đầy tình người theo gương Chúa Kitô.
– Văn hóa: Khéo léo đem tinh thần Phúc Âm thấm nhập vào nền văn hóa của dân tộc mình, vào nếp sống, vào cách suy nghĩ và hành động của những người chung quanh, bằng mọi hình thức, nhất là bằng gương sáng của chính mình.
– Xã hội: Làm cho xã hội ngày càng trở nên tốt đẹp hơn, bằng cách cổ võ, phát huy và thực hiện công bằng xã hội theo tinh thần Học thuyết Giáo Hội về xã hội.
– Chính trị: Chính trị là một phương tiện rất hữu hiệu để cải thiện xã hội (5*). Càng có nhiều người «có tâm và có tầm» (hay có đức và có tài) dấn thân vào chính trị (trong các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong các tổ chức công quyền…), thì xã hội càng dễ trở nên tốt đẹp hơn. Cũng vậy, càng có nhiều Kitô hữu gương mẫu dấn thân chính trị, thì xã hội càng dễ thấm nhuần tinh thần Phúc Âm Chúa Kitô hơn.(6*)
________________________________
(5*)   Nhưng chính trị cũng là một phương tiện hữu hiệu cho điều ác nếu lọt vào tay những người xấu. Người tốt không thể vô trách nhiệm khi để cho phương tiện này lọt vào tay người xấu chỉ vì mình từ chối không sử dụng phương tiện này.
(6*)   Luật của Giáo Hội về vấn đề làm chính trị:
          • Giáo Hội phân biệt hai trường hợp:
          – làm chính trị theo sự thúc đẩy của lương tâm hay đức ái , nhằm lợi ích trực tiếp cho đại chúng,
          – và làm chính trị đảng phái, nhằm lợi ích trực tiếp cho phe nhóm hay đảng phái của mình; vì thế, lợi ích của đại chúng chỉ được nhắm đến cách gián tiếp.
          Theo luật Giáo Hội, giáo sĩ không được phép làm chính trị đảng phái, còn giáo dân thì được tự do. Nói chung, những gì mà lương tâm hay đức ái đòi hỏi, dù có liên quan ít nhiều đến vấn đề chính trị, thì dù là giáo sĩ hay giáo dân cũng đều nên làm và nhiều khi buộc phải làm. Giáo Hội không chủ trương làm chính trị, chỉ chủ trương làm theo đòi hỏi của đức ái hay của lương tâm mà thôi. Nếu khi làm theo những đòi hỏi của đức ái hay của lương tâm mà việc ấy mang tính cách chính trị, thì Giáo Hội không vì thế mà tránh né.
          Đức ái và lương tâm là luật cao nhất của luân lý Kitô giáo:
          – Vì đức ái chính là hiến pháp, là luật tối thượng bao trùm tất cả mọi khoản luật: «Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật» (Rm 13,8; x. 18,10); «Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô» (Gl 6,2). Thánh Giacôbê cho đức bác ái là luật cao nhất của Kinh Thánh: «Luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu là Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Gc 2,8).
          – Về Lương Tâm, Giáo Hội dạy: «Lương tâm là một lề luật của tinh thần con người, nhưng vượt trên con người. Lương tâm là vị đại diện thứ nhất trong các đại diện của Đức Kitô» (Giáo lý Hội Thánh Công giáo, § 1778).
Phong trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại trước tiên và căn bản là một Phong trào Giáo dân, nên phải sống cho đúng tinh thần của một Phong trào Giáo dân.


B. Phong trào Giáo dân
1) Định nghĩa:
Phong trào Giáo dân là tổ chức giúp các thành viên thực hiện 2 mục đích:
 Thánh hóa bản thân hay «sống Đạo giữa đời»: là sống đúng tinh thần người Kitô hữu giữa trần thế, với tư cách là «con cái của Thiên Chúa»;
 Thánh hóa môi trường hay «đem Đạo vào đời»: là làm tông đồ, là làm cho môi trường gia đình và xã hội nơi mình đang sống thấm nhuần tinh thần của Chúa Kitô theo phương hướng và sự chỉ dẫn của Giáo Hội (7*).
________________________________
(7*)   «Phong trào Giáo dân là một phong trào tông đồ giáo dân thành lập trên căn bản thần học của các văn kiện của Công Đồng Vatican II, và nhất là theo tư tưởng hướng dẫn của Sắc lệnh “Tông đồ Giáo dân”» (Thủ Bản của Phong trào Giáo dân Việt Nam Hải ngoại, trang 50).
Mục đích trước phải là nền tảng và là điều kiện để thực hiện tốt mục đích sau: bản thân mình có thật sự sống tốt tinh thần Chúa Kitô thì mới có thể làm cho người khác sống tinh thần ấy được (8*).
________________________________
(8*)   «Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian… Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời» (Mt 5,14-16).
          «Không ai có thể cho cái mình không có» (Nemo dat quod non habet). Châm ngôn latinh có câu: «Facere et docere» (làm trước, dạy sau). Sau khi rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu nói: «Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em» (Ga 13,15).
Thực hiện được hai mục đích ấy chính là «sống thánh giữa đời». «Giữa đời» hay «tại thế» là đặc tính chung của người giáo dân, vì bậc giáo dân –vốn chiếm tuyệt đại đa số trong Giáo Hội– là bậc tiếp xúc rộng rãi với đủ mọi tầng lớp trong xã hội và thế giới, khác với bậc giáo sĩ và tu sĩ (9*) có môi trường tiếp xúc hạn chế hơn rất nhiều.
________________________________
 (9*)   Có 3 bậc sống hay 3 loại ơn gọi căn bản khác nhau trong Giáo Hội là giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân.
           Giáo sĩ là những Kitô hữu có chức thánh gồm các thầy sáu, các linh mục, giám mục, hồng y, giáo hoàng, có nhiệm vụ  phục vụ và rao giảng lời Chúa, đồng thời điều hành và cai quản Giáo Hội (từ cấp địa phương đến cấp trung ương). 
          – Tu sĩ là những Kitô hữu (nam hoặc nữ) cam kết sống các lời khuyên Phúc Âm (khiết tịnh, thanh bần, vâng phục) cách sâu xa triệt để, nhằm thoát khỏi mọi ràng buộc trần gian mà thuộc trọn về Chúa, họ thường sống chung với nhau trong các tu viện hay nhà dòng.
          – Giáo dân là những Kitô hữu không có chức thánh, tức không thuộc hàng giáo sĩ (trong đó bao gồm cả những tu sĩ không có chức thánh). Tuy nhiên, giáo dân thường được hiểu là những Kitô hữu không thuộc hai bậc sống trên. Đa số giáo dân là những người có gia đình, con cái, và họ chiếm tuyệt đại đa số trong Giáo Hội.

2) Nhiều cách sống thánh khác nhau
Việc «sống thánh»  hay «nên thánh» chỉ có một, nhưng vì mỗi người một tính tình, một hoàn cảnh, một nếp sống khác nhau, nên đường lối nên thánh của mỗi người mỗi khác. Cách nên thánh của một giáo dân sống ngoài đời (phải đầu tắt mặt tối với công ăn việc làm, với gia đình, với đàn con, với những quan hệ xã hội) đương nhiên không thể giống như đường lối nên thánh của một linh mục hay tu sĩ –vốn không phải lo những chuyện bon chen ngoài đời, chuyện “cơm, áo, gạo, tiền”, không phải nheo nhóc với đàn con, mà chỉ chủ yếu lo những chuyện tinh thần, đạo nghĩa. Cách nên thánh của các linh mục triều sống giữa giáo dân cũng khác với cách nên thánh của các tu sĩ dòng sống chung với nhau trong bốn bức tường tu viện. Mỗi cách thức hay đường lối nên thánh ấy gọi là linh đạo.
Người Giáo dân có linh đạo riêng, có đường lối nên thánh riêng phù hợp với tình trạng và hoàn cảnh sống của mình.

3) Linh đạo
Linh đạo (10*) là đường hướng sống đạo, lề lối tu đức, là cách thức nên thánh của người Kitô hữu trong Thánh Linh, Đấng luôn luôn hiện diện và tác động trong đời sống người Kitô hữu. Sống linh đạo là sống theo Thánh Linh, nhờ Thánh Linh dẫn dắt mình «đến với Chúa Cha, qua Đức Kitô» (Ep 2,18).
________________________________
(10*)           Linh (): có nghĩa là thần thiêng, tinh thần, thần khí, thiêng liêng, là tính chất của thần, thánh, hồn, v. v… Nên Linh cũng là đặc tính của Thiên Chúa, nhất là của Thánh Thần. Trong Thánh Kinh, Đức Giêsu xác định: «Thiên Chúa là Linh» , hay «Thiên Chúa là Thần Khí». Đạo (): có nghĩa là đường để đi, là phương cách đạt đến mục đích.
          Linh đạo: là con đường thiêng liêng, của tâm linh, dẫn con người tới Thiên Chúa, tới sự thánh thiện. Trước đây người ta thường gọi là «đàng thiêng liêng», «đường trọn lành», «đường lối tu đức». Nhưng hiện nay, từ «linh đạo» thường được dùng để nhấn mạnh và đề cao vai trò của Chúa Thánh Linh trong việc nên thánh, trong đời sống của linh hồn hay đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu.
Vì thế, trong lịch sử Giáo Hội, tùy thời tùy nơi, và tùy khuynh hướng tâm linh của mỗi người, Thiên Chúa Quan Phòng đã nhờ Thánh Linh làm phát sinh nhiều đường hướng sống đạo, tu đức, nên thánh khác nhau phù hợp với bậc sống, tính tình, khuynh hướng, môi trường khác nhau của người Kitô hữu (11*).
________________________________
(11*)           Sách Giáo Lý Giáo Hội Công giáo viết:
          «Trong sự hiệp thông của các thánh, nhiều linh đạo khác nhau xưa nay vẫn phát triển suốt trong lòng lịch sử của các Giáo Hội. Chúa ban đặc sủng riêng cho một số vị chứng nhân của tình Chúa yêu thương con người. Đặc sủng ấy đã được truyền lại cho người đời sau. Chẳng hạn, tinh thần” (hay “thần khí”) của Êlia được truyền lại cho Êlisê và Gioan Tẩy Giả, để các đồ đệ của họ có thể dự phần vào tinh thần ấy.
          «Một lối linh đạo cũng có thể khai sinh nơi chỗ hội tụ của những trào lưu phụng vụ và thần học. Linh đạo đó làm chứng cho việc đức tin hội nhập vào một môi trường nhưng lại cụ thể và vào lịch sử của môi trường đó.
          «Những trường phái linh đạo khác nhau của Kitô giáo đều cùng tham dự vào truyền thống sống động của việc cầu nguyện, và là những kẻ hướng dẫn cần thiết cho các tín hữu. Những luồng linh đạo phong phú và đa dạng đó là những đường khúc xạ phản ánh cùng một nguồn sáng thuần khiết duy nhất của Chúa Thánh Thần» (Giáo Lý Giáo Hội Công giáo, số §2690).
Chỉ có một Chúa Thánh Thần nhưng có nhiều nền linh đạo khác nhau. Có những linh đạo dành cho linh mục, có những linh đạo dành cho tu sĩ, và cũng có những linh đạo dành cho giáo dân.